BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

TƯ THẾ NGỒI VIẾT - |DẠY LUYỆN VIẾT

Ảnh ngẫu nhiên

Thumbnail_Ca_chua.png Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg ClipartKey_191402.png Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg Screenshot_1309.png

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hướng dẫn thực hiện nội quy và sử dụng thư viện

    CHÀO MỪNG 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (30/4/1975 - 30/4/2025)

    Học sinh Trường Tiểu học Tam Phước 1 hưởng ứng Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm học 2024-2025

    hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-03

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:23' 05-03-2024
    Dung lượng: 3.4 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM

    Hãy trả lời em tại sao?. T.3 / Đặng Thiên Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
    204tr. ; 19cm.
    1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
    001 -- dc 22
    H412

    đặng thiền mẫn dịch

    4

    Chương 1

    Thế giới chúng ta

    1

    Đối tượng của thực vật học
    là gì?

    Tiếng Anh “botany” (thực vật học) có gốc là tiếng Hy Lạp
    và có nghĩa là “cỏ”. Thời xưa, người ta nghiên cứu cỏ cây
    chủ yếu là để tìm thức ăn và thuốc chữa bệnh. Cây cỏ nào
    ăn được, chữa bệnh được? Bởi vậy, những người đầu tiên
    nghiên cứu về thảo mộc thường là các thầy thuốc hay “thầy
    mo”. Họ biết loại cây nào độc, cây nào chữa được bệnh. Khoa
    thực vật học liên kết với khoa dược có đến hàng bao nhiêu
    trăm năm. Đến thế kỷ XVI sau Công nguyên đã có người viết
    sách ghi lại những nhận xét của mình về thảo mộc. Sang
    thế kỷ XIX, công trình nghiên cứu khoa học của một người
    Anh tên là Charles Darwin đã giúp cho nhà thực vật hiểu
    rõ hơn sự tiến hóa của động và thực vật. Nhận định của
    Darwin đã khiến các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về
    thảo mộc tách ra thành một ngành khoa học riêng gọi là
    khoa thực vật học. Khoa học này lại chia ra nhiều phân
    khoa hay ngành.
    5

    Một trong những phân ngành này được mệnh danh là
    “giải phẫu thực vật” nhằm nghiên cứu cấu trúc thực vật và
    các cách thức, các mối liên hệ của các mối cấu trúc này
    với nhau. Những thí nghiệm về tính di truyền trong thảo
    mộc giúp cho người ta phát hiện quá trình đa dạng hóa
    của thảo mộc diễn ra như thế nào và chúng đã được cải
    tiến, hoàn thiện như thế nào. Công cuộc nghiên cứu này
    thuộc phạm vi nghiên cứu của phân khoa “di truyền học”
    (genetics).
    “Môi sinh học” là một phân ngành khác của khoa học
    thực vật học, nhằm nghiên cứu sự phân bố thảo mộc trên
    thế giới, tìm hiểu xem tại sao loại cây này mọc ở nơi này
    mà không mọc ở nơi khác trên thế giới. “Cổ thực vật học”
    cũng là một phân ngành của khoa thực vật học nhằm
    nghiên cứu quá trình tiến hóa của thảo mộc căn cứ trên
    những địa khai, hóa thạch tìm được. Một phân ngành khác
    nữa của thực vật học là ngành “sinh lý thực vật học” nghiên cứu những phương cách mà thực vật dùng để thở
    và chế biến thức ăn cho chúng như thế nào. Phân khoa
    khác nữa là “bệnh lý học thực vật” nghiên cứu các chứng
    bệnh của thực vật.

    2

    Có bao nhiêu thứ táo?

    Có đủ thứ táo để thỏa mãn những khẩu vị rất khác nhau
    của con người. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ thôi cũng đã có khoảng
    6

    7.000 thứ táo. Như vậy thì trên toàn
    thế giới chắc có thêm vài ngàn thứ
    táo khác nữa.
    Táo là một thứ cây đầu tiên
    do con người trồng. Táo có lẽ có
    nguồn gốc từ Đông Nam châu Âu
    và Tây Nam châu Á. Táo đã được
    sử dụng từ rất lâu đời rồi. Từ hơn hai ngàn năm trước, ở
    châu Âu người ta trồng nhiều thứ táo. Ngay thời La Mã
    Cổ, người ta đã biết thưởng thức bảy thứ táo khác nhau.
    Làm sao có được nhiều thứ táo như vậy? Có rất nhiều thử
    nghiệm đã được các nhà trồng tỉa thực hiện trên cây táo.
    Khi “tháp” (ghép) chồi non của bất cứ thứ táo nào vào
    cây non của bất cứ thứ táo nào khác, cây táo ghép sẽ sinh
    thứ quả y như quả của thứ chồi đã được ghép. Bởi vậy,
    các nhà trồng tỉa luôn thử bằng cách ghép các cành hoặc
    bằng cách cho thụ phấn của các thứ táo khác nhau. Đôi
    khi, qua sự ghép cành hoặc thụ phấn đó mà một thứ táo
    hoàn toàn mới đã xuất hiện. Thứ táo “đỏ ngọt lịm” (Red
    delicious) là một bằng chứng. Một cây táo tầm thường sinh
    ra một thứ quả tầm thường, ấy vậy mà khi ghép một mầm
    táo thứ khác vào thì từ mầm táo này đã cho thứ trái hoàn
    toàn mới, chẳng giống với thứ táo mầm cũng chẳng giống
    thứ táo gốc.
    Cách nay không lâu, tại bang Virgina (Hoa Kỳ) có mấy
    thứ táo “dại” thân cây xù xì, trái vừa nhỏ vừa chát, hình thù
    7

    méo mó nom chẳng ra làm sao. Ấy vậy mà có một nông
    dân cứ kiên nhẫn thử nghiệm bằng cách trồng hạt của loại
    táo này. Cuối cùng ông cũng được đền công xứng đáng.
    Cây táo thử nghiệm đã sinh ra thứ táo mới vừa sai trái vừa
    thơm ngọt mà ngày nay ta gọi là táo “Kim Diệu”.

    3

    Loài thảo mộc phát sinh từ đâu?

    Theo các thuyết khoa học, đã có thời mặt đất này chẳng
    có cây cỏ gì hết. Hàng trăm triệu năm trôi qua như vậy,
    đến một thời điểm nào đó, xuất hiện những hạt nguyên
    sinh chất (protoplasm) nhỏ li ti. “Nguyên Sinh Chất” là từ
    dùng để gọi những “chất liệu sống” được tìm thấy trong
    cả động và thực vật. Theo các lý thuyết khoa học này thì
    những hạt nguyên sinh chất ấy là khởi nguyên của mọi
    loài động và thực vật.
    Hạt nguyên sinh trở thành thực vật bằng cách phát triển
    cái “thành” hay cái vỏ của chúng, đồng thời bám chặt vào
    một chỗ. Chúng cũng phát triển một chất màu lục mà ta
    gọi là “diệp lục tố” (chlorophyll). Chất này giúp cho chúng
    dùng không khí, nước và đất để chế biến thành thức ăn.
    Những cây xanh thoạt kỳ thủy chỉ là một đơn bào, lần lần
    chúng kết hợp thành một nhóm thực vật. Vì chưa có phương
    tiện tự vệ trước sự khô hạn, cho nên những thực vật khởi
    nguyên này phải sống trong môi trường nước. Cho mãi
    đến tận ngày nay mà vẫn có một vài “hậu duệ” của thực
    8

    vật nguyên thủy này dai dẳng tồn tại sau khi đã thay đổi
    chút ít. Chúng được gọi là “tảo”. Cũng có một nhóm thực
    vật khác phát triển và tự chế tạo ra thức ăn mà không cần
    tới chất diệp lục tố. Thực vật không có màu xanh này được
    gọi là “nấm”.
    Hầu hết các loại thảo mộc trên mặt đất ngày nay đều
    phát sinh từ “tảo”. Một vài thứ tảo, lúc đầu, đã từ đại dương
    “bò” lên cạn, sa rễ và bám vào mặt đất. Chúng phát triển
    lớp vỏ bọc ngoài che chở cho chúng khỏi sự khô hạn thành
    những cái lá nhỏ li ti. Thực vật này được gọi là rêu hay dương
    xỉ. Tất cả các loại thực vật sơ khai này đều sinh sản bằng
    cách phân bào hay bằng các mầm. Mầm là những hật tế
    bào tương tự như mầm trong hạt giống nhưng không chứa
    “lương thực” như hạt giống. Sau một thời gian dài, những
    tế bào hạt này phát triển hoa và tạo thành hạt giống. Sau
    đó, có hai thực vật có hạt giống đã xuất hiện. Đó là loại
    hiển hoa bí tử và hiển hoa khỏa tử. Từ hai loại này phát
    triển thành các thứ cỏ cây trên trái đất ngày nay.

    4

    Tại sao trong thân cây
    lại có các vòng đồng tâm?

    Cưa ngang thân cây - ít nhất đã được một năm - ta thấy
    những vòng đồng tâm màu đậm, lợt. Những vòng này được
    gọi là “chu niên khuyên”. Đó kết quả hóa mộc của thân cây
    trong vòng một năm tròn. Tại sao các vòng này lại có màu
    9

    đậm, lợt khác nhau như vậy? Có nhiều lý do, trong đó có
    sự kiện thân cây phát triển - hóa mộc hay hóa gỗ - nhanh
    chậm, ít nhiều tùy từng mùa. Vào mùa xuân và mùa hạ, tế
    bào gỗ to hơn, nhưng vách (thành) tế bào lại mỏng hơn. Vì
    vậy, vòng tạo nên bởi các tế bào này có màu lợt hơn. Đến
    cuối hạ trở đi, tế bào nhỏ hơn nhưng vách tế bào lại dày
    hơn, do đó, vòng tạo nên bởi các tế bào này có màu đậm
    hơn. Dựa vào các vòng này ta biết “tuổi” của cây. Nhưng
    ngay trong một vòng, ta cũng thấy có những chi tiết khác
    nhau như chỗ dày, chỗ mỏng chẳng hạn. Sự khác biệt trong
    chi tiết này là do thời tiết khí hậu, nắng, mưa, chất khoáng
    trong đất. Do đó, các nhà khoa học cũng dựa vào các chi
    tiết này mà biết khí hậu của những năm trước đó tại một
    vùng nào đó trên thế giới. Khi tăng trưởng, cây cối không
    chỉ phát triển “chất gỗ” mà còn phát triển cả phần vỏ cây.
    Sự tăng trưởng này (vỏ cây) là do một lớp tế bào mỏng
    nằm giữa lớp “mộc” và “lớp vỏ”. Lớp “lót” ở giữa này được
    gọi là tầng phát sinh”. Những tế bào mới hình thành ở phía
    trong - tiếp xúc với lớp gỗ - của tầng phát sinh sẽ trở thành

    10

    gỗ. Cứ như vậy, lớp gỗ từ phía trung tâm tiến ra phía ngoài
    làm cho thân cây ngày một lớn.

    5

    Tại sao thân cây lại có vỏ?

    Bọc bên ngoài phần “gỗ” của thân và rễ cây là lớp vỏ.
    Tuy vậy, đôi khi - ở vài loại cây - khó mà nói được vỏ (cây)
    của nó dày mỏng thế nào. Như một vài thứ cây cọ chẳng
    hạn, không có sự tách bạch rõ ràng giữa vỏ và thân cây.
    Nhưng, chức năng của vỏ cây là gì? Một trong những chức
    năng chủ yếu của vỏ cây là bảo vệ phần bên trong tức là
    thân gỗ của cây. Thân gỗ của cây là thành phần rất dễ bị
    tổn thương. Ngoài ra, vỏ cây còn che chở cho thân cây
    khỏi bị khô hạn và nhiều thứ bệnh từ ngoài xâm nhập vào.
    Một phần vỏ phía ngoài cũng lâu ngày sẽ khô đi và chết.
    Phần vỏ chết ấy khiến cho vỏ cây nom xù xì. Có phần vỏ
    khô bị nứt nẻ và rụng khi một mầm từ thân cây nhú ra và
    lớn lên. Vỏ cây đã được con người sử dụng vào rất nhiều
    công việc. Vỏ cây sồi đã trở thành món hàng kinh doanh
    lớn : đó là “lie” tức là nút bần làm nút chai... Vỏ cây “độc

    11

    cần” (hemlock) được dùng để thuộc da. Những gia vị như
    quế chẳng hạn là vỏ một thứ cây mọc ở Ấn Độ, Mã Lai.
    Thuốc ký ninh được chế ra từ vỏ cây “cinchona”. Người ta
    cũng chiết ra từ vỏ của nhiều loại cây để chế ra nhiều thứ
    loại hương liệu, dược liệu.

    6

    Nhựa cây từ đâu mà ra?

    Mỗi bộ phận nhỏ trong cơ thể con người đều nhận máu
    từ một “cái máy bơm” duy nhất trong cơ thể là trái tim. Cũng
    vậy, mỗi khi bộ phận nhỏ trong thân thảo mộc cũng đều
    nhận được nước và thức ăn mà ta gọi là nhựa cây. Nhưng
    thảo mộc làm gì có “trái tim”? Vậy, bằng cách nào thảo mộc
    đem lương thực đến cho từng phần nhỏ trong thân của
    nó? Ta đừng tưởng là khoa học ngày nay đã lý giải được
    một cách thỏa đáng bí mật này. Tất nhiên, đã có nhiều lý
    thuyết đưa ra nhằm giải thích hiện tượng này, nhưng chưa
    có một lý thuyết nào đưa ra giải đáp toàn diện và hoàn
    toàn thích đáng.
    Một trong những giả thuyết đó là thuyết “sức ép thẩm
    thấu”. Nơi các sinh vật, các chất (dinh dưỡng) hòa tan trong
    chất lỏng thấm qua màng. Khi có một dung dịch hóa chất
    tiếp xúc với màng thì dung dịch đó trương sức ép vào màng.
    Nếu trong dung dịch có nhiều phần tử thì sức ép ấy càng
    mạnh và một số phần tử sẽ thấm qua màng. Chất khoáng
    và nước - “lương thực” nuôi cây - được rễ cây hút vào. Nói
    12

    cho đúng, không phải rễ cây chủ động hút vào mà là vì
    đất chứa nhiều khoáng chất hơn thân cây, do đó, “sức ép
    thẩm thấu” làm cho chất khoáng “chui” vào, thấm vào cây.
    Dung dịch chất khoáng nằm trong tế bào cây. Nước trong
    dung dịch bị bốc hơi. Bằng cách này, nước ở dưới đất từ
    từ bốc lên cao qua thân cây.
    Một cách giải thích khác nữa mệnh danh là thuyết “đổ
    mồ hôi”. Sự thoát hơi nước ở là cây được gọi một cách bóng
    bẩy, sống động là “đổ mồ hôi”. Sự thoát hơi nước này khiến
    cho phần tử nước ở trên “kéo” phần tử nước ở dưới lên, cứ
    như vậy, nước từ dưới đất được đẩy lên cao trong thân cây.
    Nói cách khác, sự thoát “đổ mồ hôi” tạo ra một sức kéo lên.
    Nước thoát hơi ở các tế bào lá, do đó tạo ra khoảng chân
    không ở những tế bào nằm ngay dưới bề mặt lá. Những tế
    bào có khoảng chân không này sẽ “kéo” chất dinh dưỡng
    của tế bào bên dưới lên để lấy nhựa sống. Cứ như vậy, các
    phần tử nước “kéo” nhau khiến cho mọi phần của một cây
    nhận được nhựa sống.

    7

    Phải chăng cây trường xuân có
    chất độc?

    Không chỉ riêng loài người mà ngay cả loài thú cũng biết
    cách tránh né kẻ thù hoặc tự vệ một cách hữu hiệu trước
    sự tấn công của kẻ thù. Chắc ta không ngờ rằng loài thực
    vật cũng có những nhu cầu về khả năng như vậy để sinh
    13

    tồn. Một trong những phương thức phòng thủ tự nhiên
    của thực vật là chất độc khiến cho bất cứ giống vật gì ăn
    nó - thậm chí chỉ đụng vào nó cũng bị tai hại.
    Một trong những thứ cây độc thường thấy nhất ở Hoa
    Kỳ là cây trường xuân, một thứ cây leo. Đụng vào nó là bị
    ngứa và bị sưng lên (viêm). Có điều lạ là không phải bất
    cứ ai đụng vào nó cũng đều bị như vậy.
    Cây trường xuân độc mọc hoang trên khắp Hoa Kỳ, từ
    Đông sang Tây, từ bang Texas cho đến phía Đông bang
    Kansas và Minesota. Nó bò leo lên những thân cây cao, leo
    lên những bụi cây bên đường, thậm chí mọc cả trên cát,
    nơi mà hầu như các thảo mộc khác không sống nổi. Đôi
    khi cây trường xuân cũng mọc thành bụi cây. Ngay trong
    những ngày hè khô hạn, lá của thứ cây leo này vẫn xanh
    bóng. Sang thu, lá này biến thành đỏ tía. Chất độc trong
    loại cây leo này là một loại “dầu” có tên là “toxicodenrol”
    (độc thảo mộc). Chất này được chứa trong mọi cơ phận
    của cây, chứ không chỉ ở lá. Đó là lý do tại sao cây thường
    xuân tươi tốt quanh năm.

    14

    Một điều khác lạ nữa là cứ trung bình năm người có
    một người “miễn nhiễm” với chất độc của loại cây leo này.
    Nhiều người cho rằng chất nhựa của nó làm cho da ngứa,
    sưng rộp lên, khi các vết rộp bị phá vỡ nước trong các vết
    rộp lan ra đến đâu là chất độc lan ra đến đó trên thân thể.
    Nhưng đâu phải vậy. Hiện tượng lan này là hậu quả của
    chất độc phát tác ở những nơi khác trên thân thể thôi.

    8

    Cây bồ đề là cây gì?

    Bồ đề là một trong những thứ cây lớn nhất trong loài
    thảo mộc. Bất cứ thứ gì trong thiên nhiên mà “vĩ đại” thì
    cũng phức tạp với đủ thứ vấn đề. Thảo mộc mà vĩ đại thì
    cũng vậy. Chẳng hạn, một cây vĩ đại làm cách nào để hút
    đủ số lượng nước để nuôi hết mọi phần trong cái cơ thể
    vĩ đại của nó? Cây càng to thì thân cây càng phải vững
    mạnh, chứ nếu tán lá to mà mà thân cây mảnh mai thì
    chắc chắn phải gãy. Như vậy thì cây càng lớn - tán lá càng
    lớn - thì bộ gốc rễ của nó cũng phải như thế nào đó mới
    chịu nổi sức nặng của bộ cành lá. Bộ cành lá lớn thì sức
    cản gió cũng sẽ lớn, nếu bộ gốc rễ không vững thì cây sẽ
    bị gió “bứng” liền.
    Cây bồ đề đã giải quyết tất cả những vấn đề đó
    một cách rất tài tình. Bồ đề thuộc họ “cây dâu tằm”
    (mulberry) mọc nhiều ở Ấn Độ, Mã Lai... Điểm độc đáo - hay
    bất thường? - ở cây bồ đề là cái cành của nó. Cành mọc ra
    15

    tứ phía trên thân cây. Mặc dù thân cây bồ đề lớn lắm nhưng
    cũng không thể “gánh” nổi bộ cành của nó. Bởi vậy, để khỏi
    bị gãy, cành thò ra những cái “rễ” bự xuống đất để làm cột
    chống. Nhưng công dụng cái rễ phụ này không phải chỉ có
    vậy thôi đâu mà còn để hút thức ăn nuôi cây nữa. Kết quả
    là cây bồ đề xòe rộng cành theo chiều ngang hơn là phát
    triển theo chiều cao. Với một bộ rễ phụ như vậy, đã có cây
    bồ đề phát triển thành một “vòng tròn” có chu vi tới 450m!
    Dưới tán lá một cây bồ đề, người ta họp chợ thảnh thơi,
    râm mát. Người ta cắt những cái rễ vừa vừa của chúng để
    làm cọc lều. Những rễ nhỏ hơn thì bệån làm thừng.
    Bồ đề có thân cây đồ sộ vậy mà trái thì lại chỉ nhỏ như
    những trái sung nhỏ xíu. Khi chín chim và dơi rất ưa.

    16

    9

    Sự thụ phấn là gì?

    Hoa là một bộ phận mà thảo mộc dùng để sinh sản.
    Hoa, theo định nghĩa của nhà thực vật học là toàn bộ các
    cơ phận có chức năng chủ yếu là tạo ra phấn hoặc hạt hoặc
    cả hai. Theo quan điểm này thì phần quan trọng nhất của
    hoa là “nhụy hoa” và “nhị hoa”. Có nhiều thứ hoa bao gồm
    cả “nhụy” lẫn “nhị” trong một bông, nhụy nằm giữa và bao
    xung quanh là nhị. Khi mãn khai, ở đáy nhụy có những hạt
    nho nhỏ gọi là “noãn”. Mỗi “noãn” sẽ phát triển thành hạt.
    Phần quan trọng nhất trong một “noãn” là tế bào phôi nhỏ
    đến nỗi phải dùng kính hiển vi mới thấy được.
    “Nhị” gồm túi phấn ở cuối cuống. Khi túi phấn mở ra
    sẽ tung những hạt cực mịn thường là màu vàng. Để hạt
    giống “đậu” được thì những hạt phấn từ nhị hoa phải được
    “dẫn” vào nhụy. Sự di chuyển phấn như vậy ta gọi là sự thụ
    phấn. Sự thụ phấn có thể diễn ra bằng nhiều cách. Đôi khi
    phấn chỉ cần rớt thẳng vào nhụy. Nhưng nhiều khi gió,
    côn trùng sẽ làm công việc dẫn phấn vào nhụy. Những
    loài thảo mộc thụ phấn nhờ gió thường là các thứ cỏ - nói
    cho đúng, là loài thân thảo - vì “cỏ” không chỉ có nghĩa là
    cỏ mọc trên sân cỏ mà các thứ cây như cây bắp, lúa mì,
    lúa.... cũng là thực vật thân “thảo”. Nhị hoa bị cơn gió nhẹ
    lay động nên tung phấn ra. Phấn bay trong không khí và
    đột nhập vào nhụy.

    17

    Cách thụ phấn khác là do côn trùng. Sự thụ phấn do
    côn trùng thường xảy ra ở những hoa có màu sắc rực rỡ,
    hương thơm để hấp dẫn côn trùng. Côn trùng cũng chẳng
    tốt lành gì. Chúng ghé vào bông hoa để hút mật, lấy phấn
    để làm thức ăn cho chúng. Nhưng khi côn trùng làm như
    vậy thì sẽ có một ít phấn bám trên cơ thể chúng rớt xuống
    nhụy. Thế là nhụy được thụ phấn.

    10

    Nấm mũ độc từ đâu ra?

    Đôi khi, sau ngày mưa, trên sân cỏ bỗng có nhiều nấm
    mũ độc xuất hiện, cứ như là phép mầu làm ra vậy. Tất nhiên
    là chẳng có phép mầu nào dính dáng vào đó cả. Nấm mũ
    độc mọc lên là do các bào tử. Nấm mũ độc và nấm thì
    cũng chỉ là một thứ, không có sự khác biệt giữa chúng.
    Cái nấm kiểu mẫu bao gồm thân nấm hình ống gọi là
    “stipe” (cuống) và một “cái nón” gọi là “pileus”. Trên đầu thân
    nấm có một cái “cổ” tròn gọi là “khoen” (annulus). Phía dưới
    cái nón có những cái “vây” mọc từ trong ra mép nón gọi là
    “lamellae”. Đây chính là nơi chứa các bào tử.
    Các bào tử nấm có vai trò tương tự như hạt giống, tuy
    nhiên, ta đừng lầm lẫn nó với hạt giống. Trong một cái
    nấm có rất nhiều bào tử. Nấm thường cũng vậy, có rất
    nhiều bào tử. Bởi vậy, chỉ cần đem một cái nấm đi nơi
    khác, hoặc gió thổi các bào tử này đi là nơi đó có thể có
    18

    nấm mọc. Khi bào tử rụng xuống một nơi có nhiệt độ, độ
    ẩm và “lương thực” thích hợp thì bào tử - vốn chỉ là một
    đơn bào - sẽ hấp thụ thức ăn và phát triển bằng sự phân
    bào thành một chuỗi tế bào nom giống như chuỗi tràng
    hạt. Chuỗi hạt này được gọi là “hypha” (khuẩn ty). Một mớ
    khuẩn ty này họp lại được gọi là “mycelium” (thể sợi nấm).
    Rải rác trên thể sợi nấm này có những “trái banh” nhỏ còn
    thua cái đầu kim. Nhưng chính những “trái banh” này sẽ
    phát triển thành cây nấm.
    Bạn thấy nấm mũ độc hay nấm thường “thình lình” mọc
    rộ lên như có phép màu phải không? Không “thình lình”
    chút nào đâu, vì để thành nấm, nó đã qua cả một quá trình
    dài như vừa mô tả ở trên. Sự xuất hiện của nấm chỉ là giai
    đoạn kết thúc của một quá trình mà khởi đầu là bào tử, một
    quãng đường đâu phải ngắn và đơn giản, phải không bạn?

    11

    Lực ly tâm là gì?

    “Lực” là cái khiến cho một vật chuyển dịch (dời chỗ).
    Muốn đem cái ghế từ chỗ này ra chỗ kia, bạn không thể
    vận dụng ý chí của bạn khiến nó dời chỗ theo ý muốn của
    bạn, phải tác động vào nó một lực: hoặc đẩy hoặc kéo, hoặc
    nâng và đưa nó đi. Khi lực ngưng không tác động vào cái
    ghế nữa thì lập tức cái ghế cũng “ì” ra đó. Tuy nhiên, nếu
    bạn lấy ngón tay ấn nhẹ vào trái banh đặt trên mặt đất
    19

    nhẵn nhụi, bạn thấy sao? Không cần lực tác động nữa mà
    trái banh vẫn cứ lăn tiếp, phải không? Tại sao vậy?
    Nhà bác học Isaac Newton, người đầu tiên đã đưa ra khái
    niệm “quán tính” để giải thích. Quán tính làm cho một vật
    đang chuyển động cứ tiếp tục chuyển động. Bất cứ một
    vật nào cũng có quán tính giúp cho nó chuyển động đẳng
    hướng với lực đã tác động vào nó nếu nó không bị một lực
    khác tác động vào. Thí dụ: ngồi trong xe buýt, đang chạy
    nhanh, thình lình tài xế thắng xe gấp, bạn thấy mình lao về
    phía trước. Lực đẩy bạn lao về phía trước là quán tính đó,
    nghĩa là xe ngừng nhưng thân thể bạn vẫn tiếp tục chuyển
    động theo hướng xe chạy.
    Bây giờ ta nói đến lực ly tâm. Chắc các bạn đều có kinh
    nghiệm về vấn đề này rồi. Ta sẽ nhận ra lực ly tâm khi quan
    sát một vật chuyển động theo vòng tròn. Trở lại tỉ dụ đi
    xe buýt. Thay vì thắng gấp, tài xế đang cho xe chạy nhanh
    thình lình bẻ góc thật gắt. Nếu bạn đang đứng ở gần cửa,
    bạn sẽ bị hất ra ngoài. Lực hất bạn ra ngoài chính là lực ly
    tâm. Khái niệm “quán tính” cũng được dùng để giải thích
    lực ly tâm. Khi chiếc xe buýt quay vòng nhưng thân thể
    bạn theo quán tính vẫn chuyển động theo đường thẳng.
    Do đó, lực (theo đường thẳng) sẽ đẩy bạn ra khỏi đường
    vòng. Lực ly tâm luôn đẩy vật di chuyển ra khỏi đường
    vòng. Đó là lý do tại sao trên các xa lộ cao tốc, các xe hay
    bị lật, nhất là ở chỗ các vòng xoáy hoặc khi đạp xe đạp

    20

    (chạy nhanh) bạn phải hơi nghiêng người về phía trong
    vòng xoay mới khỏi bị té. Việc nghiêng người ngược chiều
    với sức ly tâm, các đường cao tốc cũng như các phi đạo
    hơi cong theo lòng máng... chính là để giúp vật di chuyển
    cân bằng được (giảm hay triệt tiêu) lực ly tâm, để động tử
    không bị văng ra ngoài. Sự nghiêng về phía trong tạo ra
    một lực nghịch chiều với lực ly tâm kéo ra phía ngoài, nhờ
    đó ta có thể lái xe nhanh theo vòng xoáy mà không bị lực
    ly tâm đẩy ra ngoài vòng xoáy.

    12

    Tại sao bảy sắc cầu vồng
    lại được sắp xếp theo thứ tự
    như vậy?

    Ánh sáng hằng ngày (do
    mặt trời) gọi là ánh sáng
    “trắng”. Thật ra, ánh sáng
    trắng này là tổng hợp của
    những ánh sáng có màu sắc
    khác nhau. Nhìn vào một tấm
    kiếng, một cái bong bóng xà
    phòng hay một lăng kính,
    bạn sẽ thấy màu sắc các ánh sáng này. Cái khiến cho ánh
    sáng trắng khi đi qua lăng kính bị phân tích thành ánh sáng
    có màu đỏ, cam, vàng, lục, chàm, tím chính là do mỗi ánh
    sáng có độ dài sóng khác nhau.
    21

    Độ dài sóng (ánh sáng) tạo thành các dải màu song
    song với nhau, màu nọ sát khít bên màu kia theo một thứ
    tự nhất định. Dải màu này được gọi là quang phổ, luôn
    luôn bao giờ cũng bắt đầu bằng dải màu đỏ và kết thúc
    là màu tím. Cầu vồng chính là một quang phổ lớn mà thôi.
    Khi ánh sáng mặt trời chiếu qua những phân tử nước kết
    thành những giọt nước li ti thì (ánh sáng ấy) bị phân tích
    cũng như khi chiếu qua quang phổ. Khi ánh sáng mặt trời
    chiếu qua giọt nước, ta thấy ánhh sáng bị phân tích thành
    dải bảy màu. Thế rồi các ánh sáng này lại xuyên qua giọt
    nước khác, giọt nước khác... cứ như vậy hình thành quang
    phổ cầu vồng. Nhìn vào quang phổ cầu vồng, phía trên bao
    giờ cũng là màu đỏ, phía dưới cũng bao giờ là màu tím.
    Cầu vồng chỉ xuất hiện trên bầu trời khi trời vừa mưa
    vừa nắng và mặt trời ở đối diện với người quan sát. Chẳng
    hạn, bạn phải đứng giữa mặt trời và màn mưa, mặt trời
    phía sau lưng, màn mưa phía trước mặt bạn. Mặt trời, con
    mắt của bạn và trung điểm cầu vồng phải nằm trên cùng
    một đường thẳng.

    13

    Ánh sáng được truyền đi
    như thế nào?

    Ánh sáng là một trong những điều kỳ lạ trong thế giới
    ta đang sống. Ta chưa biết gì nhiều về ánh sáng và những
    gì ta biết (về ánh sáng) chưa hẳn là hoàn toàn chính xác.

    22

    Người ta mới có thể dựa trên tác động của ánh sáng để
    “mô tả”, chứ chưa có thể nói là lý giải một cách thích đáng.
    Ta đã biết, ánh sáng là một dạng của năng lượng (energy). Cũng như những dạng khác của năng lượng - như
    nhiệt, sóng điện, tia X... thì tốc độ, tần số và độ dài sóng
    ánh sáng có thể đo được. Những tính năng khác của ánh
    sáng cũng giống những tính năng của năng lượng. Ta cũng
    đã biết, tốc độ của ánh sáng là khoảng 300.000km/giây.
    Đơn vị “quang niên” hay năm ánh sáng - 9.460.000.000km,
    nghĩa là suýt soát một nghìn tỷ năm km - dùng để tính các
    khoảng cách không gian trong vũ trụ.
    Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều lý thuyết để giải thích
    ánh sáng là gì và ánh sáng được truyền đi như thế nào.
    Vào cuối thế kỷ XVII, nhà bác học Issac Newton cho rằng
    ánh sáng là những “hạt”, ví như những viên đạn bắn ra từ
    nguồn sáng. Nhưng lý thuyết “hạt” này không giải thích
    được những hiện tượng khác của ánh sáng. Cũng trong
    thời kỳ này, nhà bác học Christian Huyghens đưa ra thuyết
    “sóng ánh sáng”. Ông cho ánh sáng lan truyền dưới dạng
    sóng, cũng như khi ném một hòn sỏi xuống ao, ta thấy
    có những vòng tròn sóng lan rộng ra.
    Ánh sáng là sóng hay là hạt? Cuộc tranh luận kéo dài
    suốt 150 năm. Lần lần người ta cũng nhận ra được một vài
    tác động của ánh sáng. Sự kiện này đã khiến cho lý thuyết
    “hạt ánh sáng” bị đào thải.

    23

    Tuy nhiên, ngày nay các nhà khoa học cho rằng ánh
    sáng tác động vừa hạt vừa như sóng. Những thí nghiệm
    đã chứng tỏ cả hai thuyết trên đều có phần đúng. Do đó
    cho đến ngày nay chưa ai đưa ra được câu trả lời xác quyết
    cho câu hỏi “ánh sáng là gì?”.

    14

    Một phân tử lớn cỡ bằng nào?

    Phân tử là một phần nhỏ nhất của vật chất có thể tồn tại
    và giữ nguyên được tính năng của chất đó. Chẳng hạn, nếu
    phá vỡ một phân tử đường C12H12O11, ta được các nguyên
    tố nhưng mỗi nguyên tố đó không còn chút tính năng nào
    như màu sắc, mùi vị của đường nữa.
    Có những phân tử rất đơn giản, nhưng cũng có những
    phân tử vật chất rất phức tạp bao gồm hàng ngàn nguyên
    tử cấu kết với nhau theo những kiểu rất phức tạp. Vài thứ
    khí, như khí helium hay néon chẳng hạn, mỗi phân tử chỉ
    gồm có một nguyên tử. Có những phân tử của những chất
    khác gồm hai hoặc hơn hai nguyên tử của cùng một chất.
    Thí dụ một phân tử oxy gồm hai nguyên tử oxy. Có phân
    tử (của một chất) gồm một nguyên tử của chất này và hai
    nguyên tử chất khác. Thí dụ một phân tử nước gồm một
    nguyên tử oxy và hai nguyên tử hydro.
    Trái lại, một phân tử cao su thiên nhiên gồm tới 75.000
    nguyên tử cacbon và 120.000 nguyên tử hydro. Qua đó các
    24

    bạn thấy kích cỡ của một phân tử khác nhau đến thế nào.
    Một phân tử nước có độ dài bằng nào bạn biết không? Khó
    hình dung nổi: nó chỉ bằng một phần tỉ tỉ của một inch
    (2.54cm). Trong khi đó một phân tử cao su lớn hơn một
    phân tử nước hàng mấy chục ngàn lần. Đại khái phân tử
    nước lớn bằng đầu mũi kim thì phân tử cao su lớn bằng
    trái banh. Ta khó mà hình dung nổi kích cỡ của một phân
    tử nhỏ đến mức nào. Ta cứ lấy một cm3 không khí thôi thì
    đủ biết: gồm 500 tỷ tỷ phân tử không khí. Và đó là không
    khí chưa “dày đặc” lắm đấy, bởi vì, khoảng cách giữa các
    phân tử không khí ấy cũng khá lớn.

    15

    Một phân tử nặng cỡ bằng nào?

    Các nhà khoa học đã “cân” trọng lượng của phân tử bằng
    một cái cân đặc biệt. Trọng lượng của phân tử tùy thuộc
    vào trọng lượng các nguyên tử đã cấu thành nó. Đến lượt
    trọng lượng của một nguyên tử lại phụ thuộc vào số lượng
    các hạt proton và neutron cấu thành nguyên tố đó.
    Một nguyên tử nước gồm hai nguyên tử hydro và một
    nguyên tử oxy. Một nguyên tử hydro chỉ có một proton
    trong hạt nhân. Do đó nguyên tử hydro được chọn làm đơn
    vị chuẩn là 1 (một). Cân một nguyên tử - thí dụ nguyên tử
    oxy chẳng hạn - là so sánh xem trọng lượng một nguyên
    tử oxy nặng hơn một nguyên tử hydro bao nhiêu lần. Một
    25

    nguyên tử oxy có 8 hạt proton và 8 hạt neutron, do đó trọng
    lượng của một nguyên tử oxy là 16, có nghĩa là nặng hơn
    nguyên tử hydro 16 lần. Một phân tử nước gồm hai nguyên
    tử hydro và một nguyên tử oxy, do đó, “trọng lượng” của
    một phân tử nước là (2x1)+16 = 18.
    Trong chất lỏng hay chất rắn các phân tử dính chặt với
    nhau do sức hút lẫn nhau. Sức hút này có bản chất điện
    lực và sức đó mạnh hay yếu sẽ khiến cho chất liệu bền
    chặt nhiều hay ít.

    16

    Nguyên tố là gì?

    Bất cứ chất liệu, đồ vật trên đời này cũng do một, hai
    hoặc nhiều hơn chất cơ bản tạo ra. Nguyên tố của một chất
    gồm những nguyên tử của cùng một loại. Mỗi nguyên tố
    có tính năng độc đáo mà nguyên tố khác không có. Chẳng
    hạn, helium hydrogen đều là chất khí có đặc điểm không
    màu, không mùi, không vị. Cả hai đều nhẹ nhưng so với
    helium thì khí hydro nhẹ hơn. Khí hydro cháy được còn
    helium thì không.
    Nguyên tố nào cũng có một trọng lượng. Nguyên tố có
    thể ở thể lỏng, thể đặc hay thể khí. Một vài nguyên tố có
    thể hòa tan trong nước. Có nguyên tố phải đun nóng đến
    nhiệt độ nào đó mới chuyển từ thể rắn sang thể lỏng và
    thể khí. Những tính năng “chuyển thể” này gọi là “lý tính”
    của các nguyên tố.
    26

    Sau khi nguyên cứu lý tính và hóa tính của các nguyên
    tố, các nhà khoa học đã phân loại các nguyên tố. Những
    nguyên tố có tính năng giông giống nhau được xếp thành
    một nhóm hay một họ. Các nhóm này được xếp thành một
    bảng gọi là “bảng nguyên tố tuần hoàn”. Bảng này sắp xếp
    theo số lượng nguyên tử. Nguyên tử hydro chỉ có một proton
    nên số nguyên tử của nó là một và do đó đứng đầu bảng.
    Một vài nguyên tố mang tên của người, của địa phương,
    của quốc gia đã phát hiện ra, chẳng hạn các nguyên tố
    Einsteinium, Europium, Germanium, Californium, Scandium...
    là tên nhà bác học Einstein, châu Âu, Đức, bang California (Hoa Kỳ) và bán đảo Scandinavive (Bắc Âu)... có những
    nguyên tố có tên rất quen thuộc như than, đồng, vàng,
    sắt, chì, kền, thiếc...

    17

    Tại sao có hiện tượng cát lún?

    Bạn đã nghe nói “chết chìm trong cát” hoặc “bị cát nuốt
    chửng” bao giờ chưa? Chắc bạn cho rằng đó là kiểu nói của
    thi ca, có tính biểu tưởng chứ thực tế làm gì có. Không, đó
    là một hiện tượng tự nhiên và có thật. Từ hàng bao thế kỷ
    người ta đã kinh khiếp hiện tượng này và con người ta tin
    rằng có một sức lực ma quái ở dưới cát đã hút, kéo nạn
    nhân xuống để cát vùi lấp đi. Một người đang đứng trên
    cát thấy mình từ từ lún dần xuống cho đến khi mất hút
    dưới cát. Nếu không hiểu rõ nguyên nhân thì tưởng đó là
    27

    hiện tượng ma quái, thần bí. Thật ra, hiện tượng cát lún
    không có sức hút mạnh như người ta từng thêu dệt đâu.
    Có người dám cả quyết là cát đã “nuốt chủng” cả một chiếc
    xe jeep. Nói thế là phóng đại. Nếu hiểu nguyên nhân hiện
    tượng cát lún và biết cách đối phó thì chẳng có gì là nguy
    hiểm lắm đâu.
    Hiện tượng cát lún là gì? Đó là những “thảm” cát nhẹ,
    xốp có lẫn nước. Chỗ cát lún nom không khác gì chỗ cát
    không lún ngay kế cận đó. Chỉ khác một điều duy nhất: chỗ
    cát lún không chịu một vật gì nặng đè lên nó. Hiện tượng
    cát lún thường xảy ra ở cửa sông lớn hay trên bờ biển mà
    bên dưới là một lớp đất sét. Nước bị ứ đọng trong cát vì
    lớp đất sét ở dưới giữ không cho nước thấm xuống. Nước
    này do nhiều nguồn đổ đến, từ một dòng sông hoặc từ
    những hồ, ao chẳng hạn. Nhìn thật kỹ ta sẽ thấy những
    hạt cát chỗ cát lún khác với những hạt cát ở chỗ khác ở
    điểm chúng “tròn” hơn, ít góc cạnh hơn. Nước thấm vào
    giữa khe các hạt cát làm cho chúng cách xa nhau ra đồng
    thời nâng chúng lên và làm cho chúng cứ như muốn chồm
    lên nhau. Chính sự kiện bị nâng lên và chồm lên nhau đó
    khiến cho cát lún không chịu được sức nặng đè lên chúng.
    Có những chỗ có hiện tượng như là cát lún mà không
    phải do cát. Nó có thể do bất cứ loại đất xốp hoặc cát
    pha lẫn bùn hoặc do một thứ bùn sỏi. Khi đứng trên cát
    lún, người ta không bị cát hút rồi nuốt chửng được đâu.
    Cát lún có chứa nhiều nước nên khiến cát bị trôi đi. Vì cát
    28

    nặng hơn nước nên người ta không thể nổi trong cát hơn
    trong nước. Điều quan trọng phải làm khi bị cát lún là phải
    cử động thật chậm, như vậy cát có đủ thời giờ trôi quanh
    thân thể ta. Khi cát tác động như vậy, nó cũng tác động
    như nước mà bạn đang bơi trong đó.

    18

    Hiện tượng phóng xạ là gì?

    Bụi phóng xạ là bụi và các
    chất khác bay trong không
    khí sau một vụ nổ nguyên tử.
    Bụi phóng xạ làm ô nhiễm,
    đầu độc không khí, đất,
    nước. Bụi phóng xạ làm ô
    nhiễm trái đất vì tính chất
    phóng xạ của nó. Điều này
    có nghĩa là nó chứa một số loại nguyên tử đã bị phá vỡ
    cấu trúc. Khi bị phá vỡ chúng phóng ra một lượng nhỏ
    năng lượng và vật chất được gọi là “bức xạ”.
    Một vụ nổ nguyên tử tạo ra một luồng hơi cực mạnh,
    một nhiệt lượng rất lớn và nhiều phóng xạ nguyên tử.
    Những phóng xạ nguyên tử này trộn lẫn vào trong đất và
    trong cát hạt bụi. Một vụ nổ nguyên tử tung vào bầu khí
    quyển hàng tấn hàng tấn bụi phóng xạ. Bụi này rớt xuống
    đất thành bụi phóng xạ. Những hạt nặng nhất của những
    29

    mảnh vỡ này rớt xuống đất một phút hay một giờ sau vụ
    nổ. Những hạt nhẹ hơn bay lơ lửng lâu hơn, có khi hàng
    mấy tháng, có khi hàng năm mới rơi xuống đất. Thường
    nó theo mưa, tuyết, sương mù rớt xuống và ngấm vào đất.
    Khi bụi phóng xạ rớt xuống bên ngoài cơ thể thì có thể
    rửa sạch đi được. Nhưng khi nó thấ...
     
    Gửi ý kiến